Quyền hạn làm việc của các loại visa tạm trú ở Úc?

0
2635
Hệ thống di trú Úc cung cấp nhiều loại visa tạm trú cho các di dân đang muốn tìm một cơ hội định cư lâu dài. Nhưng bạn có biết quyền hạn làm việc của mỗi loại visa tạm trú là như thế nào? và nếu bạn là chủ nhân doanh nghiệp, sẽ có những rủi ro nào khi thuê mướn các lao động tạm trú này?

Theo các nguồn dữ liệu của Chính phủ Úc cho thấy có 2,2 triệu trường hợp hiện đang giữ Visa tạm trú tại Úc tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2018 – hầu hết trong số họ đều có quyền lao động. Thế nhưng mỗi loại visa tạm trú đều gây ra những rủ ro nhất định cho người thuê mướn.

Người ở quá hạn

Đây là những trường hợp ở Úc không có visa hợp lệ, nghĩa là đang sống bất hợp pháp tại Úc. Tính đến ngày 1 tháng 7 năm 2017, Bộ Di trú ước tính có 62.900 trường hợp ở quá hạn visa tại Úc. Thế nhưng được biết nhiều người trong số này vẫn đang làm việc chui.

Rủi ro cho người chủ là họ có thể dễ dàng vô tình thuê mướn một người ở bất hợp pháp, trừ khi doanh nghiệp đó có quy trình kiểm tra nhân thân khi tuyển dụng.

Visa Du lịch (Visitors)

Người giữ visa du lịch không được phép làm bất kỳ loại công việc nào ở Úc.

Ngoài ra còn có diện “du khách kinh doanh” cho phép các hoạt động nhất định, chẳng hạn như tham dự các hội nghị, nhưng không cho phép làm việc tại Úc. Có 10.252 du khách kinh doanh tại Úc tính đến ngày 31/3.

Chủ nhân nên thận trọng để không cung cấp việc làm cho những du khách kinh doanh và nên thận trọng khi đưa nhân viên đến Úc với diện visa du khách kinh doanh vì công việc mà họ có thể làm ở Úc rất hạn chế.

Cố vấn di trú Tạ Quang Huy | Fellowship, Viện Di trú Úc
Cố vấn di trú Tạ Quang Huy | Fellowship, Viện Di trú Úc

Visa chờ (Bridging Visa)

Visa chuyển tiếp cho phép một người cư trú tại Úc một cách hợp pháp trong khi họ đang nộp hồ sơ xin cấp một visa khác – chẳng hạn chờ xử lý hồ sơ xin cấp visa, kháng cáo, hoặc rời khỏi Úc.

Thông thường, visa chuyển tiếp có các quyền lao động, nhưng quy định nhập cư phức tạp hơn so với visa thực tế. Thông thường, người có visa chuyển tiếp cần phải xin cấp các quyền lao động cụ thể.

Người có visa chờ thường phải rời Úc trong vòng 35 ngày nếu đơn xin visa hoặc quy trình kháng cáo của họ bị từ chối.

Visa du học (Student Visa)

Tính đến ngày 31/3, có hơn 530.000 người giữ visa du học tại Úc. Con số này tăng khoảng 56% so với năm 2012.

Sinh viên thường có thể làm việc 40 giờ/hai tuần, nhưng nghiên cứu sinh tiến sĩ và thạc sĩ có thể làm việc toàn thời gian. Những người phụ thuộc của sinh viên, thường có quyền lao động, nhưng số giờ lại phụ thuộc vào loại khóa học mà sinh viên chính tham gia.

Trước đây, có 7 loại Visa du học khác nhau được cấp tùy thuộc vào loại khóa học đang theo học. Vào năm 2017, các loại Visa này được thay thế bằng một Visa sinh viên hạng phụ 500 – điều này khiến người sử dụng lao động khó xác định loại khóa học mà sinh viên đang theo học và do đó khó xác định quyền lao động hơn.

Người lao động kỳ nghỉ (Working Holiday Makers)

Số lượng những trường hợp giữ visa lao động kết hợp kỳ nghỉ tại Úc tăng không đáng kể từ năm 2012. Tuy nhiên, thành phần của chương trình đã thay đổi.

Trong khi số lượng khách du lịch tự túc đến từ Anh quốc vẫn đứng số 1 từ 2012 đến 2018, thì số lượng người lao động kỳ nghỉ đến từ Ireland và Hàn Quốc đã giảm đáng kể. Đài Loan hiện là quốc gia có số lượng người giữ Visa dạng này nhiều xếp hứ hai, theo sau là Pháp.

Hầu hết đều quen thuộc với visa Lao động kỳ nghỉ (Subclass 417). Tuy nhiên, cũng có Visa lao động kỳ nghỉ (Subclass 462) với các yêu cầu khác biệt.

Một số quốc gia đã được thêm vào danh sách quốc gia được cấp Visa 462 và điều này có nghĩa là số người có Visa 462 ở Úc sẽ tăng đáng kể.

Ví dụ: Có trên 4.300 công dân Trung Quốc ở Úc theo diện Visa 462 vào tháng 3 năm 2018, tương đương với số lượng công dân Hoa Kỳ ở Úc. Các quốc gia khác hiện đang đóng góp đáng kể vào số lượng người có Visa 462 bao gồm Chile, Indonesia, Tây Ban Nha, Argentina, Thái Lan và Israel.

Visa tạm trú sau tốt nghiệp 485 (Graduate Temporary Visa Holders)

Số lượng người được cấp Visa 485 đã tăng hơn gấp đôi kể từ năm 2012. Hiện có hơn 65.000 người có visa tạm trú 485, đây là một lượng người lao động đáng kể – tất cả đều có đầy đủ quyền lao động.

Visa này thông thường chỉ có hiệu lực trong vòng 2 năm, và những người có visa này thường phải chuyển sang một loại visa mới không có các quyền lao động thuận lợi trong thời gian này.

Visa chủ nhân bảo lãnh (457 và Visa TSS)

Trên thực tế, số lượng người có visa 457 đã giảm từ năm 2012. Visa 457 đã bị hủy bỏ vào tháng 3 năm 2018 và được thay thế bằng Visa TSS mà có lẽ sẽ ít thuận lợi hơn cho hầu hết những người sử dụng lao động. Theo đó, chúng tôi dự kiến ​​số lượng Visa do người sử dụng lao động bảo lãnh sẽ tiếp tục giảm. Kể từ ngày 31 tháng 3 năm 2018, chỉ có 5 người có Visa TSS tại Úc.

Những người có Visa được bảo lãnh thường có người phụ thuộc – vào tháng 3 năm 2018, đã có 66.918 người phụ thuộc của người có Visa 457 ở Úc. 457 người phụ thuộc có thể làm việc toàn thời gian, nhưng có thể bị hủy bỏ nếu người giữ Visa chính hoàn tất việc làm của họ ở Úc hoặc nếu mối quan hệ vợ chồng đổ vỡ.

Cư dân tạm thời khác (Other Temporary Residents)

Có nhiều loại visa tạm thời – với các mức quyền lao động khác nhau. Các loại Visa này thường được gọi là “sê-ri 400” vì các mục con thường bắt đầu bằng 4. Kể từ năm 2012, sê-ri 400 đã được dồn thành số lượng Visa nhỏ hơn, do vậy việc so sánh giữa năm 2012 và năm 2018 là khá khó khăn, nhưng nhìn chung danh mục này đã tăng 63% kể từ năm 2012.